Năm 2008, tôi tạo trang web riêng chỉ là vui thích. Giờ đây, cũng vì vui thích, tôi thay thế trang flash bởi trang web mới. Tôi tự hào vì đã xây dựng nó trên nền tảng wordpress mà tôi yêu thích.
Cám ơn các bạn đã bỏ thời gian ghé thăm.
[gview file="http://lehoangnhi.free.fr/wp-content/uploads/Marché-de-Rungis.pdf"]
Đây là bài viết đầy đủ, bài đã được biên tập có tại Sài Gòn Tiếp Thị
Nạn kẹt xe ở các thành phố lớn ở Việt Nam không phải là vấn đề mới nhưng là vấn đề ngày càng được quan tâm vì tính … nan giải của nó. Cách đây cả chục năm, khi báo chí Việt Nam đưa hình ảnh về nạn kẹt xe triển miên ở Thái Lan và các quốc gia lân cận. Lúc ấy, Sài Gòn chưa bị kẹt xe trầm trọng như bây giờ. Thế nhưng, các nhà hoạch định chính sách đã không rút ra được bài học nào trong việc phát triển bền vững, chúng ta lại mắc đúng căn bệnh của các nước đang phát triển mắc phải. Còn các nhà khoa học thì tránh né nghiên cứu “thuốc điều trị” cho căn bệnh này. Trong vòng 10 năm, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM chỉ có ba đề tài nghiên cứu về vấn đề giải quyết tình trạng kẹt xe trên địa bàn. Nghe đâu, năm nay chúng ta đã có nhà khoa học chịu nghiên cứu cách trị bệnh kẹt xe với đề tài: “Nghiên cứu hoàn thiện và phát triển mạng lưới tuyến xe bus ở Tp.HCM”. Hy vọng loại “vac-xin” này sớm được nghiên cứu thành công và được áp dụng thực tiễn.
Giải quyết nạn kẹt xe, chúng ta theo xu hướng chung của nhiều nước trên thế giới bằng cách theo đuổi ưu tiên phát triển giao thông công cộng trong đô thị. Nhưng có một điều phải bàn là chính sách này chỉ thành công với điều kiện, vắng điều kiện này, “vac-xin” của các nhà khoa học cũng không giúp ích gì trong việc giải quyết nạn kẹt xe. Điều kiện này chính là đáp án tối ưu trong lý thuyết trò chơi: mọi người chơi cùng hợp tác thay vì chỉ một bên hoặc không bên nào hợp tác.
Giả sử chỉ có hai người chơi trong quan hệ giao thông: một bên là nhà hoạch định chính sách (nhà nước) và phía bên kia là người dân. Trong quan hệ này, nhà nước phải là người chủ động cam kết. Một minh chứng cho kết luận này là bài học kinh nghiệm của thành phố Paris trong việc phát triển các phương tiện công cộng.
Người dân Paris thường hài hước khi tự mĩa mai sự nhàm chán của mình bằng thành ngữ: “Mế-trô – Bu-lô – Mế-trô – Đô-đô” (Métro – Boulot – Métro – Dodo). Cuộc sống thật đơn điệu, ngày qua ngày chỉ là tàu điện ngầm (métro), công việc (boulot) và ngủ (Dodo). Sự ví von này vô tình cho thấy métro, hay phương tiện đi chuyển công cộng theo nghĩa rộng là một phần quan trọng trong cuộc sống của người dân nơi đây. Thành phố Paris tự hào có một hệ thống giao thông công cộng rộng khắp bao gồm metro, RER (hệ thống tàu nhanh của vùng Paris), tramway, bus. Mỗi ngày, các phương tiện công cộng này phục vụ hàng triệu lượt người. Chỉ riêng một tuyến đường A của RER cũng đạt một triệu lượt khách mỗi ngày.
Sự thành công này không chỉ đơn thuần nhờ vào hệ thống cơ sở hạ tầng đầy đủ mà nhờ vào sự hợp tác của nhà nước lẫn người dân. Sự hợp tác từ phía người dân không đơn thuần xuất phát từ ý thức mà còn từ những lợi ích kinh tế, xã hội khác từ phía nhà nước.
Cụ thể là, vùng Paris được chia làm 8 vùng thành 8 vòng tròn đồng tâm. Tất cả mọi phương tiện công cộng trong vùng Paris đều dùng chung một loại vé và cách tổ chức giống nhau. Người tham gia giao thông chỉ cần mua vé cho một vùng hoặc nhiều vùng theo nhu cầu của mình. Các vé này có hiệu lực trong vòng một giờ rưỡi sau khi quét qua máy khi bắt đầu tham gia giao thông. Trong thời gian này, hành khách có thể thay đổi mọi loại phương tiện giao thông công cộng khác. Việc trình vé hoàn toàn dựa vào ý thức của hành khách, không có người đi soát vé. Công ty quản lý giao thông Paris (RATP) chỉ tiến hành kiểm tra vé bất ngờ và phạt khá nặng cho người vi phạm. Dẫu biết rằng có người dùng phương tiện giao thông công cộng mà không mua vé. Không hề gì. Mục tiêu của RATP là tối đa hóa số người dùng phương tiện công cộng.
Để khuyến khích mọi người mua vé, RATP áp dụng chính sách marketing kinh điển về giá, mua càng nhiều càng rẻ. Những ai mua theo ngày, tuần, theo tháng, hoặc theo năm thì được giảm giá đồng thời được đi lại nhiều lần, không hạn chế số lượt. Sinh viên, học sinh, người già về hưu, những người thuộc các diện ưu đãi khác cũng đều được mua vé với giá rẻ một cách đặc biệt.
Khi khảo sát một tuyến đường cần bao nhiêu lượt khách, RATP đầu tư số lượng vận chuyển để đáp ứng đủ nhu cầu. Điều này dẫn đến một thực tế không tránh khỏi là cần một số lượng lớn phương tiện vận chuyển trong giờ cao điểm, sau đó, nhiều khi để không phương tiện vận chuyển vào những giờ khác. Do đó, các phương tiện vận chuyển được thiết kế đặc biệt để tạo nhiều không gian. Chẳng hạn, mỗi chiếc bus thông thường chỉ đáp có khoảng 30 chổ ngồi, khi cao điểm có thể đáp ứng chổ đủ cho 95 người.
Sau khi tìm mọi cách lôi kéo mọi người bước lên các phương tiện công cộng và đáp ứng chổ cho họ. Vấn đề kế tiếp là yếu tố thời gian: làm sao để mọi người an tâm về mặt thời gian khi sử dụng phương tiện công cộng. Tất cả các trạm bus đều được niêm yết thời gian biểu và thời gian đi lại giữa các trạm đều được liệt kê chi tiết. Các phương tiện như métro, tramway, RER đều an tâm vì có tuyến đường sắt riêng. Với bus, nhiều tuyến đường ưu tiên dành riêng được thiết lập. Điều này giúp đảm bảo thời gian vận chuyển đúng như cam kết.
Trong quan hệ lý thuyết trò chơi này, nhà nước là người chủ động lôi kéo đối tác của mình (người dân) cùng tham gia hợp tác. Bằng chứng là với những biện pháp trên, thành phố Paris đã thành công và chứng tỏ rằng: càng nhiều người đi phương tiện công cộng thì càng giảm số người tham gia giao thông trên đường; việc tắc nghẽn giao thông được giảm thiểu đáng kể và thời gian đi lại được cải thiện.
Những lợi ích cả hai cùng hưởng lợi không chỉ dừng lại ở việc giải quyết nạn kẹt xe mà còn giải quyết nhiều vấn đề: tiết kiệm năng lượng và giảm tác hại môi trường; an toàn cho người tham gia giao thông, giảm số tai nạn giao thông; chi phí đầu tư cho việc mua sắm phương tiện đi lại của mỗi gia đình và chi phí xăng dầu.
Quay lại với thực trạng ở TP.HCM, so sánh với một số biện pháp mà thành phố Paris áp dụng, tự hỏi: liệu nhà nước và nhân dân đã hợp tác đủ?
Về phía nhà nước, hình thức bán vé bus chỉ hạn chế theo tuyến đường và các phương pháp marketing hiện có rõ ràng là chưa đủ nhiệt tình thu hút sự tham gia của người dân. Về phía người dân, trung bình mỗi xe máy trị giá 15 triệu đồng (1000 usd). Chúng ta có khoảng 4,5 triệu chiếc ở TP.HCM, tương đương với 4,5 tỉ usd mà người dân đã tự đầu tư cho phương tiện đi lại. Rõ ràng là cả hai phía đang chơi cuộc chơi của riêng mình hoặc thiện chí chỉ đến từ một phía và kết cục là cả hai đều thiệt hại.
Bài toán kẹt xe đã có lời giải. Vấn đề thực hiện vẫn còn bỏ ngõ.
Lê Hoàng Nhi
Paris, ngày 9 tháng 12 năm 2008
Trên thế giới hiện nay có trên 40 nước có TTGS được nối mạng giao dịch toàn cầu chủ yếu tập trung vào các nước có tiềm lực kinh tế mạnh hoặc có các loại hàng hóa mũi nhọn như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Nga, Trung Quốc, Nam Phi…; trong khối ASEAN thì có Philipin, Indonesia, Malaysia, Singapore cũng đã có TTGS . Ngoài ra, nhiều quốc gia khác cũng đã tổ chức được TTGS ở phạm vi trong nước. Sự tồn tại của TTGS tác động rất lớn đến sự phát triển kinh tế của những nước này.
Việt Nam là một nước nông nghiệp có nhiều sản phẩm xuất khẩu mũi nhọn như dầu khí, cà phê, gạo, cao su, tơ sợi… Bên cạnh đó, trong quá trình hội nhập thì quan hệ ngoại thương cũng phát triển, việc đồng tiền Việt Nam trượt giá dần so với USD nói riêng hay các loại ngoại tệ nói chung là một khó khăn cho các nhà nhập khẩu trong hoạt động sản xuất cũng như đầu tư phát triển công nghệ. Các nhà sản xuất, nhà kinh doanh ở nước ta luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro, khó khăn nên sự tồn tại một TTGS tại Việt Nam phải chăng cũng là một liều thuốc sức mạnh cho cả nền kinh tế.
Để chứng minh cho sự cần thiết phải có quy định pháp luật về HĐGS tại Việt Nam. Trước hết, chúng tôi xin giới thiệu đến vai trò, lợi ích hiển nhiên mà TTGS đã mang đến cho nền kinh tế của quốc gia để từ đó thấy được tính cấp thiết của việc điều chỉnh quan hệ này.
1. Vai trò HĐGS trong nền kinh tế.
TTGS là một loại thị trường tài chính cao cấp, được các nhà chuyên môn đánh giá rất cao ở mặt bảo hộ và đòn bẩy tài chính trong đầu tư. Sau khi Việt Nam hình thành TTCK vào năm 2000, thì các nhà đầu tư háo hức, kỳ vọng vào việc hình thành các thị trường phái sinh như thị trường quyền chọn và TTGS. Nhưng những khó khăn trong TTCK đã phần nào đánh mất niềm tin của nhà đầu tư, mọi người bắt đầu thấy phân vân khi tham gia vào các thị trường tài chính phức tạp. Tuy vậy, một số doanh nghiệp, nhà nghiên cứu và ngay cả Chính phủ đã nhận ra được tính tất yếu của việc hình thành TTGS tại Việt Nam, vấn đề chỉ là thời gian. Niềm lạc quan đó xuất phát từ những lợi ích thiết thực mà TTGS mang lại cho các thành phần kinh tế cũng như cho chính nhà nước. Vì trong những năm gần đây, chúng ta phải đối mặt với những rủi ro tự thân của nền kinh tế thị trường; nào là sự rớt giá của cà phê, hạt tiêu, điều, sự biến động của giá xăng dầu, giá vàng, thép, ngoại tệ, sự tuột dốc của TTCK… những rủi ro đó luôn đến bất ngờ gây khó khăn cho các thành phần kinh tế cũng như vai trò quản lý kinh tế của nhà nước. Để tránh những khó khăn trên, nhiều quốc gia đã xây dựng TTGS, nhà nước quản lý kinh tế bằng cách hướng dẫn cho các thành phần kinh tế tự mình bảo vệ các rủi ro có thể xảy ra thông qua TTGS. Có thể nói, TTGS mang lại 3 lợi ích: bảo hộ, đầu cơ và ổn định giá thị trường. 3 lợi ích này tương ứng với người bảo hộ, người đầu cơ trong các thành phần kinh tế và vai trò của nhà nước trong hoạt động quản lý, kiểm soát, điều tiết thị trường.
Đối với các thành phần trong nền kinh tế.
TTGS được hình thành với mục đích ban đầu là dành riêng cho những người bảo hộ, nhưng dần dần lực lượng nhà đầu cơ tham gia thị trường ngày càng đông lấn át cả những người bảo hộ. Những nhà đầu cơ mang lấy những rủi ro về giá cho người bảo hộ. Trong TTGS, người đầu cơ chấp nhận rủi ro, cố gắng kiếm lời từ sự thay đổi giá; ngược lại, người bảo hộ thì sử dụng TTGS để tránh rủi ro về giá.
- HĐGS đóng vai trò như một công cụ đầu tư.
Đây là một vai trò hết sức quan trọng của TTGS. Các nhà đầu tư sử dụng HĐGS như một công cụ đầu cơ để kiếm lời, nhờ đó TTGS mới hoạt động liên tục, nhộn nhịp và hiệu quả được. Sở dĩ người đầu cơ mạo hiểm chấp nhận rủi ro để tham gia TTGS là vì công cụ đòn bẩy tài chính của TTGS.
Khi người đầu cơ tham gia vào TTGS, họ không phải bỏ ra đầy đủ số tiền như mình đã ký kết trong hợp đồng để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của mình, thay vào đó là đóng tiền bảo chứng cho mỗi lần giao dịch. Các SGD trên thế giới đều buộc những người tham gia đóng tiền bảo chứng (margin) và quy định cụ thể mức duy trì tài khoản bảo chứng (maintenant margin) là mức tiền bảo chứng thấp nhất cho phép. Tuỳ thuộc vào loại hàng hóa mà SGD quy định mức tiền bảo chứng cụ thể cho mỗi hợp đồng; các bên đóng đầy đủ tiền bảo chứng là có thể an tâm rằng HĐGS mà mình ký kết sẽ được thực hiện, trừ phi có lệnh gọi đóng thêm tiền khi tài khoản bảo chứng rớt xuống dưới mức duy trì (maintenant margin). Càng lập nhiều hợp đồng thì phải đóng nhiều tiền bảo chứng tương ứng với số lượng hợp đồng; ví dụ như một người lập 3 HĐGS thì phải đóng một số tiền bảo chứng gấp 3 lần số tiền bảo chứng quy định cho một hợp đồng đó.
Thông thường, mức tiền bảo chứng chỉ nằm trong khoảng từ 2% đến 20% giá trị HĐGS tuỳ thuộc vào loại hàng hóa. Mức tiền bảo chứng càng thấp thì khả năng đòn bẩy tài chính càng cao. Tiền bảo chứng chỉ là một tài khoản cam kết thi hành hợp đồng ở một mức giá cụ thể, (không phải là chi phí cho việc lập HĐGS) do đó sự thay đổi giá cả trên TTGS so với mức giá mà người đó đã thiết lập có thể ảnh hưởng đến tài khoản bảo chứng.
Giả sử như một người ký thác vào công ty kinh doanh HĐGS một số tiền bảo chứng là 2.500 USD để mua một HĐGS của một loại hàng hóa trị giá 10.000 USD và mức duy trì tiền bảo chứng do SGD quy định là 1.500 USD. Trong trường hợp này thì tài khoản bảo chứng bằng 25% giá trị hợp đồng. Nếu giá trị của hàng hóa cơ sở đó trên TTGS tăng lên thành 11.000 USD, người đó thanh lý hợp đồng của mình thì thu về một khoản lợi là 1.000 USD. Tương ứng với số vốn bỏ ra là 2.500 USD thì anh ta được lãi 40% thay vì chỉ lãi 10% nếu phải đóng đầy đủ toàn bộ số tiền tương ứng giá trị hợp đồng. Nhưng ngược lại, nếu giá trị hàng hóa cơ sở trên TTGS giảm xuống còn 9.000 USD tương ứng với khoản lỗ là 1.000 USD thì dù anh ta chưa thanh lý hợp đồng nhưng khoản lỗ đã làm cho tài khoản bảo chứng của anh ta dự kiến mất đi 1.000 USD, chạm vào mức duy trì tài khoản bảo chứng. CQTL sẽ đưa thông báo gọi đóng tiền thông qua công ty kinh doanh HĐGS mà anh có tài khoản để đảm bảo tài khoản bảo chứng đúng như mức quy định. Nếu không đóng tiền thì CQTL tự động thanh lý hợp đồng đó, khoản lỗ của anh ta lên đến 40% so với tiền đầu tư ban đầu.
Như vậy, đòn bẩy tài chính như là con dao hai lưỡi. Nó mang lại nhiều lợi nhuận cho nhà đầu tư, giúp cho mọi người có thể kiếm lời từ sự thay đổi giá cả của các loại hàng hóa. Ngược lại, nó cũng là nơi dành cho những người đầu cơ dám chấp nhận rủi ro và là công cụ nguy hiểm cho các loại tội phạm tài chính. Trường hợp của quỹ Quantum dùng đòn bẩy HĐGS để kinh doanh đã làm khủng hoảng nền kinh tế Thái Lan, các nước khu vực Đông Nam Á vào năm 1997 là một ví dụ tiêu biểu cho sự thống nhất biện chứng giữa rủi ro và lợi ích của HĐGS. Tuy vậy, những trường hợp như vậy chỉ là những trường hợp cá biệt, vai trò của nó dành cho nhóm người bảo hộ còn rất lớn, đó là lý do vì sao mà TTGS vẫn tồn tại và phát triển ngày càng mạnh mẽ.
- Bên cạnh đó, HĐGS còn có vai trò là một công cụ bảo hộ.
Nhóm người bảo hộ là tất cả những người sử dụng HĐGS để bảo hộ cho hoạt động kinh doanh của mình, bao gồm: người sản xuất, người sở hữu hàng hóa, người xuất khẩu, người nhập khẩu, các công ty, các công ty quản lý quỹ, các ngân hàng, các công ty đa quốc gia và kể cả Chính phủ. Họ bảo hộ những rủi ro sau:
- Đối với sự biến đổi về giá cả hàng hóa đối với các nguyên vật liệu thô (về năng lượng, kim loại, nông sản…). Người mua không muốn giá quá cao nên đã mua trước bằng HĐGS ở một giá định trước, còn người bán thì không muốn giá cả rớt quá thấp nên đã bán trước bằng HĐGS.
- Đối với sự thay đổi của tỷ giá hối đoái. Người nhập khẩu thì không muốn đồng ngoại tệ thanh toán lên giá nên đã mua trước bằng HĐGS, trong khi người xuất khẩu thì không mong muốn đồng ngoại tệ rớt giá bằng cách bán trước đồng ngoại tệ thanh toán bằng HĐGS.
- Đối với sự thay đổi về lãi suất. Các nhà kinh tế đã chứng minh được rằng lãi suất luôn đi ngược lại với giá trái phiếu Chính phủ. Lãi suất cao thì giá trái phiếu sẽ hạ, ngược lại, nếu lãi suất hạ thì giá trái phiếu cao. Dựa vào tính chất đó mà các công ty, các quỹ đầu tư hoặc kể cả Chính phủ thi hành các chính sách tài chính của mình sao cho ít bị thiệt hại vì sự thay đổi về lãi suất. Chẳng hạn như một công ty muốn phát hành trái phiếu nhưng sợ lãi suất thị trường lên thì công ty phải tốn nhiều tiền để trả lãi, công ty thực hiện chiến lược bảo vệ bằng cách lập HĐGS bán trái phiếu Chính phủ trong tương lai. Nếu lãi suất thị trường lên thật thì giá trái phiếu Chính phủ sẽ hạ, công ty này sẽ thanh lý HĐGS trước đó bằng cách mua lại trái phiếu ở giá thấp. Khoản chênh lệch giá lời thu được sẽ bù đắp vào chi phí trả lãi suất trái phiếu của công ty.
- Đối với sự thay đổi của giá cả chứng khoán thì cũng tương tự như đối với trường hợp bảo vệ giá cả hàng hóa. Người dự định mua chứng khoán nhưng không muốn giá quá cao nên đã mua trước, nếu giá chứng khoán không lên hoặc rớt thì họ sẵn sàng mất một khoản thua lỗ (trong tài khoản bảo chứng) trên TTGS còn hơn mua và nắm giữ chứng khoán thật sự. Còn người muốn bán chứng khoán thì lo ngại giá sẽ giảm, nếu giá không giảm mà ngược lại còn tăng thì người bán sẽ chấp nhận một phần thua lỗ mà không bán chứng khoán nữa.
Đối với người bảo hộ thì họ có thể lựa chọn, một là thực hiện đúng như hợp đồng (thi hành hợp đồng), hoặc hai là thanh lý hợp đồng bằng thanh toán bù trừ. Thông thường, vì những lý do bị động về thời gian, địa điểm giao hàng, người bảo hộ vẫn thích thực hiện nghiệp vụ thanh toán bù trừ như nhà đầu cơ để bảo vệ cho rủi ro của họ.
Để tiện cho việc so sánh, quan hệ giữa người mua, người bán HĐGS và lợi ích của họ được mô tả như sau:
| Lý do để mua HĐGS | Lý do để bán HĐGS | |
| Người bảo vệ. | Khóa giá mua.Đạt được mục đích bảo hộ khi giá tăng. | Khóa giá bán.Đạt được mục đích bảo hộ khi giá giảm. |
| Người đầu cơ. | Kiếm lời từ việc tăng giá. | Kiếm lời từ việc giảm giá. |
- Ngoài ra, HĐGS còn là công cụ điều chỉnh giá cả trên thị trường.
Việc các bên mua bán hàng hóa với giá cả dự kiến trong tương lai giúp cho thị trường tự điều chỉnh giá. Nếu có một tin xấu (chẳng hạn như thời tiết khó khăn có thể gây mất mùa) hoặc tin tốt (được mùa) sẽ xảy ra trong tương lai thì giá cả của mặt hàng đó sẽ tự động điều chỉnh trong một thời gian trên TTGS trước khi có sự thay đổi giá thực sự trên thị trường tự do. Nhờ biết trước được giá cả dự kiến trong tương lai nên những người cần bảo hộ có thể điều tiết sản xuất, tự động cân bằng cung cầu. Hơn thế nữa, việc niêm yết giá cả công khai trên thị trường sẽ giúp cho các nhà kinh doanh không lo việc mua bán không đúng giá, ép giá. Giá cả được niêm yết công khai không chỉ lợi cho những người giao dịch trên TTGS mà nó còn là căn cứ để các nhà kinh doanh trong nước, khu vực hoặc thế giới thực hiện việc mua bán của mình.
Như vậy, những người tham gia thị trường luôn thủ đắc cho mình một lợi ích nhất định đằng sau hành vi mua hoặc bán đó. Ngoài ra, những chủ thể quản lý tuy không tham gia mua bán nhưng cũng có những lợi ích nhất định.
2. Đối với vai trò quản lý nhà nước.
TTCK là phong vũ biểu cho nền kinh tế của quốc gia, nhưng thực chất nó chỉ phản ảnh trong giới hạn một số ngành nghề kinh tế và nó chịu ảnh hưởng một cách gián tiếp đối với sự thay đổi của nền kinh tế thế giới. Còn TTGS là một phong vũ biểu cho nền kinh tế trong tương lai và nó gần như chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các diễn tiến giá cả hàng hóa trên thế giới trong tương lai gần. Do đó, TTGS trở thành một công cụ để nhà nước quản lý, quan sát sự biến chuyển trên TTGS nhằm đưa ra các chiến lược quan trọng để điều tiết và phát triển kinh tế. Sau đây là một số lợi ích mà TTGS có thể mang lại đối với vai trò quản lý kinh tế của nhà nước:
- Đối với các loại hàng hóa thông thường, sự xuất hiện TTGS sẽ giúp cho các thành phần tham gia thị trường cũng như nhà nước nắm được quan hệ cung cầu và giá cả. Sự giao dịch tập trung giúp cho diễn tiến giá trên thị trường phản ánh được quan hệ cung cầu, đặc biệt hơn ở chỗ là giá cả đó lại là giá cả dự kiến trong tương lai gần. Những người bảo vệ sẽ không lo bị ép giá và tự động điều tiết việc sản xuất của mình dựa trên quan hệ cung cầu trên thị trường. Còn nhà nước thì biết được quan hệ cung cầu và giá cả để định hướng sản xuất, thực hiện việc quản lý kinh tế vĩ mô của mình.
- Việc tiêu chuẩn hóa trên TTGS là một dịp thuận tiện để nhà nước tiêu chuẩn hóa và thống nhất chất lượng hàng hóa phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời nâng cao quy mô sản xuất để tiến tới một nền sản xuất chuyên nghiệp, có định hướng hơn, tránh sự sản xuất thiếu tập trung như hiện nay.
- Còn trong lãnh vực tài chính thì thông qua TTGS mà nhà nước có cơ sở thực hiện chính sách tiền tệ của mình. Sự thay đổi tỷ giá hối đoái, lãi suất hoặc các chỉ số chứng khoán trong tương lai gần được thể hiện trong TTGS, dựa vào những chuyển biến dự kiến đó mà nhà nước kịp thời đưa ra những chính sách bảo vệ nền tài chính quốc gia.
- Ngoài ra, việc ghi sổ, cập nhật các thành phần tham gia, các lãnh vực được mua bán, sự thay đổi giá cả, thông tin v.v…trên TTGS có ý nghĩa rất lớn trong việc thống kê thương mại. Dựa vào số liệu thống kê đó, nhà nước thực hiện việc quản lý kinh tế được hiệu quả hơn. Và cùng với nguồn dữ liệu thống kê được trong quá khứ sẽ giúp cho nhà nước có cơ sở đưa ra được những dự đoán trong tương lai, tránh rơi vào những tình huống xấu xảy đến bất ngờ.
Trên đây là những lợi ích có thể thực hiện được dựa trên chính bản chất của TTGS. Bên cạnh đó, còn có nhiều lợi ích khác mà các nhà kinh tế đang tiếp tục nghiên cứu.
* Từ những lợi ích thiết thực trên, các nước khác trên thế giới đều đang nỗ lực xây dựng và phát triển TTGS. Và để cho TTGS được hoạt động và phát triển trong sự quản lý và theo định hướng của nhà nước, các nước có TTGS đều có luật qui định tổ chức và hoạt động của Thị trường phái sinh và các văn bản luật cụ thể cho một số loại HĐGS cụ thể. Ví dụ như Hoa kỳ có luật riêng cho TTGS là Commodity Exchange Act of 1936 và hiện nay là Commodity Futures Modernization Act of 2000 ; Nhật Bản có Commodities Exchange Law 1950, Financial Futures Trading Law 1989 cho TTGS về hàng hóa và tài chính;… Ngoài ra, ở mỗi thị trường, SGD đều ban hành qui định riêng cho từng loại hàng hóa cụ thể. Chẳng hạn HĐGS Cà phê Robusta, HĐGS lúa mì, HĐGS Eurodollar,… về các tiêu chuẩn số lượng, chất lượng, ngày giao hàng, địa điểm giao hàng và các tiêu chuẩn khác cho việc thực hiện HĐGS. Điều này cho thấy xu hướng của các nước là hoàn thiện pháp luật hợp đồng của quốc gia để điều chỉnh chung cho HĐGS, xây dựng pháp luật tổ chức TTGS, rồi sau đó giao cho SGD thẩm quyền ban hành các qui định cụ thể về hợp đồng của từng loại hàng hóa.
Quay trở lại với tình hình của Việt Nam, có ý kiến cho rằng nếu pháp luật chưa qui định kịp thời các văn bản cụ thể cho quan hệ HĐGS thì các thành phần kinh tế có thể sử dụng các loại hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng chuyển quyền, nghĩa vụ để tự thiết lập các giao dịch bảo vệ cho mình. Nếu qua thời gian mà xét thấy các hợp đồng dân sự có thể tự điều chỉnh được quan hệ trên thì không cần thiết xây dựng qui phạm pháp luật về HĐGS nữa. Nhưng, như đã nói, dựa vào mục đích kinh doanh, tất cả mọi thành phần kinh tế đều muốn tránh rủi ro trên thị trường nhưng bản thân họ lại không dám chắc vào khả năng phòng chống rủi ro tiềm ẩn trong các hợp đồng dân sự, kinh tế, thương mại thông thường. Ngoài ra, những yêu cầu cho việc thiết lập hợp đồng được nhanh chóng, thuận tiện, linh hoạt, đơn giản, phù hợp với biến đổi của xu thế thị trường cũng là những đòi hỏi thích đáng cho việc thành lập TTGS và các quy định riêng về HĐGS.
Trong Thị trường giao sau, người ta lập các Hợp đồng giao sau (HĐGS) và HĐGS chỉ tồn tại trong TTGS. Do đó, HĐGS mang những đặc điểm riêng biệt, khác hẳn với các loại hợp đồng khác. Cụ thể là một bên muốn tham gia vào quan hệ này, họ không ngồi lại với phía đối tác bên kia để cùng thống nhất lập một bản hợp đồng mà các bên chỉ việc viết một lệnh mua hoặc bán một loại hàng hóa cơ sở nào đó và yêu cầu Công ty môi giới mang lệnh đó đi đấu giá trên Sàn giao dịch (SGD).
Nhưng lệnh yêu cầu mua sẽ mãi mãi không thi hành được nếu không gặp một lệnh bán cùng loại hàng hóa ở cùng giá đã được niêm yết tại SGD. Điều đó cho thấy rằng, đằng sau những phiếu lệnh mà khách hàng yêu cầu thi hành là một quan hệ hợp đồng. Quan hệ hợp đồng này khá phức tạp nên việc nghiên cứu để hiểu biết rõ bản chất của nó sẽ giúp cho việc đưa ra được các quy phạm pháp luật điều chỉnh đúng đắn.
1. Khái niệm.
Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về HĐGS. Các giáo trình tài chính thường định nghĩa HĐGS mang nội dung như sau:
HĐGS là một cam kết pháp lý có tính ràng buộc, được lập thông qua Sở giao dịch, để mua hoặc bán một lượng hàng hóa hoặc các công cụ tài chính nhất định ở một giá xác định tại một thời điểm đã được định trước trong tương lai; hợp đồng đó có thể được thanh toán bù trừ trước ngày đáo hạn hợp đồng.
Hoặc trong bài viết của các nhà khoa học Thái Lan khi nghiên cứu xây dựng TTGS ở Thái Lan thì có định nghĩa sau:
“HĐGS là một cam kết của hai bên, giữa bên mua và bên bán, để giao dịch hàng hóa vào một thời điểm trong tương lai, về một loại hàng hóa đặc biệt hoặc các loại dịch vụ ở một giá được định trước. Giá cả được xác định thông qua một tiến trình niêm yết và đấu giá tuân theo những luật lệ của một Sở giao dịch có tổ chức.”
Dựa vào các định nghĩa trên, chúng tôi xin đưa ra một định nghĩa chung như sau:
“HĐGS là một cam kết pháp lý của các bên về việc mua hoặc bán một lượng hàng hóa vào một thời điểm trong tương lai thông qua Sở giao dịch và các cơ quan trung gian ở một giá được định trước.”
Sự cam kết pháp lý về một hành vi trong tương lai này có thể được các bên hủy bỏ một cách hợp pháp khi lập một HĐGS khác ngược lại vị thế mà mình đã có. Cũng vì lý do đó mà ta có thể chia HĐGS thành hai loại :
- HĐGS được thanh lý sau khi giao hàng. Đây là loại hợp đồng tồn tại một sự giao hàng thực sự theo như thời điểm giao hàng đã thoả thuận trong hợp đồng . Trong trường hợp này, về bản chất thì HĐGS tương tự như hợp đồng kỳ hạn (forward).
- HĐGS được thanh lý trước ngày giao hàng ghi trong hợp đồng. Đây là loại hợp đồng không có sự giao hàng trên thực tế xảy ra, các bên chấm dứt sự ràng buộc của mình đối với phía bên kia bằng nghiệp vụ thanh toán bù trừ, nghĩa là các bên mua hoặc bán lại chính loại hàng hóa đó ngược với vị thế mà mình đã có (vị thế mua hoặc bán trước đây). Đây là dạng phổ biến, nhờ đó mà tồn tại TTGS.
2. Đặc điểm.
HĐGS có nhiều đặc điểm riêng biệt, không có ở các hợp đồng khác. Dựa vào định nghĩa và thực tiễn, HĐGS có thể được chia thành các đặc điểm chính sau:
- Các điều khoản trong HĐGS được tiêu chuẩn hóa.
- HĐGS là một hợp đồng song vụ, cam kết thực hiện nghĩa vụ trong tương lai.
- HĐGS được lập tại SGD qua các cơ quan trung gian.
- HĐGS phải có tiền bảo chứng và đa số các HĐGS đều được thanh lý trước thời hạn.
Các điều khoản trong HĐGS được tiêu chuẩn hóa.
Trong TTGS, các hoạt động mua bán được thực hiện liên tục với trình độ chuyên môn nghiệp vụ và bảo đảm an toàn cao. Do đó, các điều khoản trong hợp đồng được tiêu chuẩn hóa một cách tối đa, giúp cho việc ký kết hợp đồng nhanh chóng, đảm bảo an toàn về mặt pháp lý. Các điều khoản được tiêu chuẩn hóa trong TTGS là: tên hàng, chất lượng, độ lớn hợp đồng, thời gian giao hàng, địa điểm giao hàng.
Tên hàng phải là chính hàng hóa được phép giao dịch trên SGD đó. Hàng hóa đó có thể là một loại hàng hóa thông thường hoặc cũng có thể là các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, lãi suất, chỉ số… Mỗi SGD chỉ giao dịch một số loại hàng hóa nhất định. Do đó, người tham gia thị trường chỉ được phép giao dịch các hàng hóa cho phép trong SGD đó. Trong trường hợp người nông dân muốn bảo vệ cho hàng hóa của mình nhưng hàng hóa đó không được mua bán trên SGD thì họ có thể bán bằng một HĐGS của loại hàng hóa tương tự. Ví dụ như người nông dân thu hoạch Bắp hạt vàng loại 4, trong khi đó, SGD chỉ cho phép giao dịch loại 1 và loại 2, thì người nông dân có thể thực hiện các HĐGS thanh toán bù trừ đối với Bắp loại 2 để bảo hộ cho giá Bắp loại 4 của mình.
Chất lượng hàng hóa cũng được tiêu chuẩn hóa. Hàng hóa được phân thành các mức chất lượng khác nhau nhưng thông thường thì SGD chỉ cho phép giao dịch một vài mức chất lượng nhất định.
Độ lớn là độ lớn giá trị tài sản được giao dịch trong một hợp đồng. Độ lớn mỗi HĐGS về mỗi loại hàng hóa đều được thống nhất và hầu như được thống nhất trên toàn thế giới giúp cho việc mua bán giữa các TTGS trên thế giới dễ dàng hơn. Chẳng hạn như một hợp đồng vàng có khối lượng là 100 ounces, hợp đồng dầu thô là 1000 barrels, hợp đồng Yen Nhật là 12.500.000 ¥, hợp đồng cà phê arabica là 37.500 pounds (tại NYMEX), hợp đồng cà phê robusta là 5 tấn (tại LIFFE),… việc qui định độ lớn mỗi hợp đồng sao cho không quá lớn để những nhà bảo hộ nhỏ cũng có khả năng tham gia, không quá nhỏ vì khoản được bảo hộ hoặc đầu cơ sẽ không bù đắp được chi phí huê hồng hay các chi phí khác.
Thời điểm giao hàng (thời điểm đáo hạn hợp đồng) thường được xác định là tháng giao hàng trong năm. Trong tháng giao hàng đó, ngày giao hàng được quy định cụ thể tuỳ vào loại hàng hóa và thị trường. Ví dụ như hợp đồng Bạc được đáo hạn vào tháng 3,5,7,9,12; hợp đồng tiền tệ qui định tháng đáo hạn là 3,6,9,12;…
Thời điểm giao hàng là điều kiện xác định để nhằm phân biệt đối tượng được giao dịch trong HĐGS, ví dụ như: HĐGS cà phê tháng 3 năm 2005 khác với HĐGS cà phê tháng 5 năm 2005…
Địa điểm giao hàng trong HĐGS do SGD quy định. Việc giao hàng này xảy ra khi các bên mong muốn thi hành hợp đồng.
Sự tiêu chuẩn hóa các điều khoản chủ yếu trong HĐGS là một trong những đặc điểm để phân biệt HĐGS với các loại hợp đồng khác.
HĐGS là một hợp đồng song vụ, cam kết thực hiện nghĩa vụ trong tương lai.
Khi lập một HĐGS thì các bên bị ràng buộc quyền và nghĩa vụ vào trong mối liên hệ đó. Trong đó bên bán phải có nghĩa vụ giao một khối lượng hàng xác định cho bên mua và có quyền nhận tiền vào một thời điểm trong tương lai ở một giá thoả thuận trước. Còn bên mua phải có nghĩa vụ thanh toán tiền theo như thoả thuận trong hợp đồng và có quyền nhận hàng cũng vào một thời điểm trong tương lai.
Đặc điểm trên cũng là một dấu hiệu giúp phân biệt HĐGS với một loại hợp đồng phái sinh khác là hợp đồng quyền chọn (Option). Trong hợp đồng quyền chọn thì chỉ bên mua quyền được mua (buy call) hoặc mua quyền được bán (buy put) mới có quyền, bên còn lại (sell call – sell put) không có quyền mà phải thực hiện nghĩa vụ mà mình cam kết với bên kia.
Như vậy, cả hai bên trong quan hệ HĐGS đều bị ràng buộc bởi những quyền và nghĩa vụ nhất định. Và để đảm bảo cho các HĐGS được thi hành nên SGD đã qui định các biện pháp bảo đảm đối với cả bên mua lẫn bên bán bằng việc ký quỹ hoặc các giấy tờ chứng minh khác.
HĐGS được lập tại SGD qua trung gian Cơ quan thanh lý (CQTL).
Ở trong TTCK, các loại chứng khoán có thể được mua bán trên SGD hoặc ở thị trường tự do nhưng trong TTGS thì các HĐGS chỉ được lập trên SGD. Việc mua bán qua SGD trong TTGS làm cho các nhà đầu tư không cần quan tâm đến đối tác của mình. Chỉ cần các bên tuân thủ quy định pháp luật khi ký kết thì quyền và nghĩa vụ các bên sẽ được bảo đảm. Bởi vì, việc giám sát đảm bảo thực hiện hợp đồng của tất cả các thành viên tham gia trong TTGS đã có CQTL đảm nhiệm. Trong trường hợp nhà đầu tư thực hiện giao dịch thanh toán bù trừ thì CQTL sẽ cân đối, bù trừ vào tài khoản của các nhà đầu tư; còn trong trường hợp các bên muốn được thi hành hợp đồng thì CQTL sẽ là cầu nối, yêu cầu bên bán và bên mua giao nhận hàng tại kho hoặc nơi do CQTL chỉ định.
Ngoài CQTL ra thì còn có nhiều bên khác làm trung gian giúp cho việc giao kết HĐGS. Đó là các công ty thanh lý thành viên, các Công ty giao sau, các quỹ đầu tư,… làm trung gian giữa nhà đầu tư với CQTL. Các bên này có nhiệm vụ giúp CQTL xác định tư cách tham gia TTGS của các nhà đầu tư, giúp họ giao dịch bằng cách nhận lệnh của họ và đem đấu giá trên sàn.
HĐGS phải có tiền bảo chứng và đa số các HĐGS đều được thanh lý trước thời hạn.
Tiền bảo chứng là biện pháp bảo đảm thi hành hợp đồng, bắt buộc đối với cả bên bán và bên mua. Thay vì phải bỏ ra một khoản tiền lớn để đặt cọc hoặc một lượng tiền bằng với giá trị hàng hóa (thế chấp) để bảo đảm cho việc mua bán thì SGD chỉ quy định một mức bảo chứng rất thấp, tùy vào loại hàng hóa. Tiền bảo chứng thấp trong HĐGS cũng như trong hợp đồng quyền chọn là một trong những nguyên nhân làm cho chúng trở thành những công cụ đòn bẩy tài chính mạnh nhất ngày nay. Chính vì tiền bảo chứng thấp nên ai cũng có thể tham gia thị trường với tư cách là nhà đầu cơ. Những nhà đầu cơ luôn kỳ vọng vào việc kiếm lời đã trở thành nhân vật chủ yếu trong TTGS, TTGS hoạt động sôi nổi và trôi chảy là nhờ họ. Và vì thế, những người có hàng hóa cần được bảo hộ lại được lợi, họ có thể dễ dàng lập một HĐGS bất cứ lúc nào vì lúc nào cũng có người mua bán. Nhờ vậy mà TTGS có tính thanh khoản cao.
Cuối cùng là một đặc điểm hết sức độc đáo của HĐGS mà các dạng hợp đồng khác không có được, đó là thanh lý hợp đồng trước ngày đáo hạn. Trong các hợp đồng thông thường, khi các bên muốn thanh lý hợp đồng trước ngày giao hàng đồng nghĩa với việc thỏa thuận để chấm dứt hợp đồng hoặc thoả thuận chuyển nghĩa vụ của mình cho người khác, khi đó các bên sẽ thoát khỏi sự ràng buộc về nghĩa vụ với nhau. Nhưng trong HĐGS thì các bên có thể thanh lý hợp đồng trước ngày đáo hạn một cách dễ dàng mà không cần phải thông qua một sự thoả thuận nào bằng cách thực hiện nghiệp vụ thanh toán bù trừ là lập một hợp đồng ngược lại vị thế mà mình đã có. Cứ như thế, các bên có thể mua đi bán lại nhiều lần một loại hàng hóa vào một tháng giao hàng nhất định trong tương lai. Đến ngày giao hàng, nếu các bên không muốn giao hàng thực sự thì CQTL sẽ thanh toán bù trừ các loại hợp đồng đó và nghĩa vụ giao hàng cũng như nhận hàng của họ được chuyển giao cho người khác.
Ví dụ như vào tháng 2 một người (A) đã bán một hợp đồng vàng tháng 5 với giá 387 USD/ounce nhưng đếng tháng 4 thì hợp đồng vàng tháng 5 chỉ còn ở giá 380 USD/ ounce thì người (A) đó có thể lập một hợp đồng ngược lại với vị thế mà mình đã có bằng cách mua lại hợp đồng vàng tháng 5 với giá 380 USD/ ounce (vào thời điểm tháng 4 thì giá cả của hợp đồng cho tháng 5 hoàn toàn có thể không phải là 380 hoặc 387 USD/ounce). Khoảng chênh lệch giá giữa giá bán và giá mua 7 USD là khoản lời mà người (A) đó kiếm được từ việc thiết lập quan hệ hợp đồng này dù họ không cần có một sự trao đổi hàng hóa thực sự. Trong đó, hành vi bán một hợp đồng vàng tháng 5 sẽ làm phát sinh cho người đó nghĩa vụ giao hàng (vàng) vào tháng 5. Khi người đó thực hiện hành vi mua lại hợp đồng vàng tháng 5 có nghĩa là người (A) đó đã mua cùng một lượng hàng mà mình đã bán trước đây; phía đối tác bên kia (B) sẽ có nghĩa vụ giao hàng (vàng) cho người đó vào tháng 5. Như vậy, tới hạn giao hàng vào tháng 5, người (A) đó sẽ không phải thực hiện nghĩa vụ giao hàng nữa. CQTL hiểu là người (A) đó sẽ dùng hàng (vàng) của phía đối tác bên kia (B) để thi hành nghĩa vụ của mình (A). Lúc này, nghĩa vụ của người (A) đó được xem như đã chuyển cho phía đối tác kia (B). Nói như thế, xem ra hợp đồng mua lại hợp đồng vàng tháng 5 là một hợp đồng chuyển nghĩa vụ cho một người thứ ba. Nhưng cũng có ý kiến ngược lại cho rằng ở đây không có một hợp đồng chuyển nghĩa vụ cụ thể nào giữa hai bên. Cụ thể là các bên khi lập HĐGS thì chỉ quan tâm đến việc đối tượng trong hợp đồng là (hàng hóa) vàng, không phải đối tượng là nghĩa vụ giao hàng.
Chúng tôi ủng hộ với ý kiến cho rằng đây không phải là hợp đồng chuyển nghĩa vụ cụ thể giữa hai bên trong hợp đồng mà chỉ là một nghiệp vụ thanh toán bù trừ của CQTL vào ngày đáo hạn hợp đồng. Hệ quả của hành vi thanh toán bù trừ của CQTL dẫn đến chuyển nghĩa vụ giữa các bên trong HĐGS . Việc chấm dứt nghĩa vụ này do có sự hoà nhập giữa người có nghĩa vụ và người có quyền; người đang có nghĩa vụ lại trở thành người có quyền đối với chính nghĩa vụ đó (Điều 388 BLDS).
3. Mục đích của HĐGS.
Một điểm nữa giúp cho HĐGS khác với các loại hợp đồng thông thường hiện nay là ở mục đích thực hiện hợp đồng. Mọi người tham gia vào quan hệ HĐGS không phải chỉ vì mục đích trao đổi hàng hóa mà vì hai mục đích sau :
Rủi ro là một thuộc tính gắn liền với hoạt động kinh doanh; có thể chia thành rủi ro có thể dự đoán được và rủi ro không thể dự đoán được. Những rủi ro có thể dự đoán được như thiên tai, hoả hoạn, thiếu nguồn cung ứng, tiêu thụ, tranh chấp về pháp lý… thì có thể được hạn chế bằng các quy định chặt chẽ trong hợp đồng (các trường hợp bất khả kháng, quyền và nghĩa vụ của các bên…). Bên cạnh đó, có những rủi ro mà các chủ thể hoạt động kinh doanh không thể dự đoán trước được hoặc không thể ngăn chặn được như rủi ro về tài chính, thị trường, pháp luật, chính trị, trong quản trị kinh doanh…; các rủi ro tiềm ẩn này đặt những người sản xuất, người kinh doanh luôn phải đối mặt với thua lỗ. Điều đáng lo ngại là các rủi ro này tồn tại mặc nhiên trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh nên họ không thể lập các hợp đồng bảo hiểm để bảo vệ rủi ro cho một đối tượng cụ thể hoặc trong một thời gian cụ thể nào. Nói như thế không có nghĩa là người ta không còn cách nào để hạn chế những rủi ro tiềm ẩn của thị trường. Các thành phần trong thị trường có thể dùng các loại phái sinh như Hợp đồng quyền chọn (Option) hoặc Hợp đồng giao sau (Futures) để ngăn ngừa các rủi ro có thể làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của họ.
Trong đề tài này, chúng tôi bàn đến mục đích bảo vệ trong HĐGS. Khi người bảo hộ là người sản xuất hay người tiêu thụ ký kết một HĐGS tại một mức giá nhất định, giao hàng vào một thời điểm xác định trước trong tương lai thì đồng nghĩa với việc các bên chấp nhận giới hạn mức lời cũng như mức thua lỗ của mình trong mức giá đó. Dù thị trường có thay đổi giá như thế nào thì họ cũng được đảm bảo một khoản lợi nhuận dự kiến tại mức giá thoả thuận trong HĐGS. Như vậy, họ đã chuyển rủi ro về giá cả hàng hóa trên thị trường qua cho các thành phần đầu cơ khác trên thị trường bằng HĐGS. Thông thường thì người ta coi HĐGS là một công cụ bảo vệ rủi ro cho họ. Do đó, khi cần bán hoặc cần mua một lượng hàng hóa thì họ thiết lập hai loại hợp đồng : (1) hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường và (2) HĐGS để bảo vệ lợi nhuận của mình trước những tác nhân có thể làm thua lỗ từ lúc lập hợp đồng bảo hộ cho đến ngày giao hàng (như: giá hàng hóa tăng, tỷ giá hối đoái giảm…).
Bên cạnh mục đích bảo vệ thì HĐGS có thể được dùng như một phương cách đầu cơ. Kinh tế ngày càng phát triển làm cho lượng tiền nhàn rỗi trong dân chúng ngày càng tăng lên nhanh chóng. Lượng tiền nhàn rỗi này có thể được gởi vào ngân hàng, đem đi đầu tư hoặc tham gia vào TTCK. Nhưng từ khi có TTGS, các nhà đầu tư đã lập các HĐGS như một phương cách đòn bẩy tài chính hữu hiệu để thu được lợi nhuận cao . Những người đầu tư thay vì tham gia vào TTCK để mong chờ kiếm lời từ sự thay đổi giá của các loại chứng khoán thì tham gia vào TTGS để kiếm lời từ sự thay đổi giá của các loại hàng hóa trên TTGS. Rủi ro mà các nhà đầu tư phải chịu trên TTGS cũng chính là phần thua lỗ mà người bảo hộ có thể bảo vệ được.
Các nhà đầu tư trên TTGS kinh doanh dựa vào hai mục đích đó. Hai mục đích này cũng là căn cứ để phân loại chủ thể tham gia HĐGS: người bảo hộ và người đầu cơ.
Sự toàn cầu hóa mang lại nhiều thuận lợi đồng thời cũng mang đến nhiều khó khăn. Khó khăn đó chính là các rủi ro có thể nhận thấy hoặc các rủi ro tiềm ẩn. Các rủi ro này tồn tại một cách ngẫu nhiên trong tất cả quá trình sản xuất, kinh doanh, quản lý. Chúng có thể làm cho nhà đầu tư mất sạch tiền, công ty phá sản và nền kinh tế của một quốc gia suy sụp. Trước những nguy cơ đó, các phái sinh tài chính như hợp đồng giao sau (Futures), hợp đồng quyền chọn (Option), hợp đồng hoán chuyển lãi suất (Swap)… ngày càng được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới như là những công cụ phòng chống và ngăn chặn rủi ro.
Sau một thời gian mở của nền kinh tế, chúng ta dần dần biết được những phương cách bảo hộ rủi ro trên thị trường tài chính phái sinh. Chính phủ đang dần dần tổ chức các chợ đầu mối, các trung tâm giao dịch và tiến tới hình thành các thị trường giao sau về nông sản. Trong lãnh vực ngoại hối Chính phủ đã cho phép sử dụng hợp đồng quyền chọn (Option) để bảo vệ hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Tuy muộn nhưng sự khởi đầu này cũng là một tín hiệu đáng mừng cho nền kinh tế của Việt Nam.
Bài 1: Lược sử và tên gọi thị trường giao sau
1- Lịch sử thị trường giao sau[1].
Người ta đã tìm thấy dấu vết, nguồn gốc của TTGS ngay từ thời Trung cổ tại Châu Âu, mối quan hệ được hình thành giữa thương nhân và nông dân. Vào những năm mất mùa, người nông dân trữ hàng làm giá cả tăng cao, điều này gây khó khăn cho giới thương nhân. Ngược lại, khi bội thu, giới thương nhân lại dìm giá xuống, gây khó khăn cho người nông dân. Để tránh tình trạng đó, thương nhân và người nông dân đã gặp nhau trước mỗi vụ mùa để thỏa thuận giá cả trước. Như vậy, rủi ro về giá của cả hai bên đã được giải quyết.
Tuy nhiên, TTGS đầu tiên trên thế giới ra đời tại thành phố Chicago (Hoa Kỳ).
Vào thập niên 40 thế kỷ XIX, Chicago đã trở thành một trung tâm thương mại lớn của Hoa Kỳ. Cũng trong thời gian đó, máy gặt McCormick đã được phát minh, giúp cho năng suất sản xuất lúa mì tại Mỹ tăng lên rất nhanh chóng. Do đó, những người nông dân trồng lúa mì từ khắp nơi đều quy tụ về Chicago để bán sản phẩm của họ. Dần dần, hoạt động này trở nên sôi nổi đến mức hầu như không đủ nhà kho chứa lúa mì của nông dân. Ngoài ra, sự tồn tại những phương pháp nghèo nàn trong việc cân và phân loại hàng hóa đã đẩy người nông dân vào tình thế phải chịu sự định đoạt củacác thương nhân.
Tình hình có vẻ khả quan hơn, khi vào năm 1848, một trung tâm giao dịch The Chicago Board of Trade (CBOT) đã được thành lập. Ở đó, người nông dân và các thương nhân có thể mua bán trao ngay tiền mặt và lúa mì theo tiêu chuẩn về số lượng và chất lượng do CBOT qui định. Nhưng các giao dịch ở CBOT bấy giờ chỉ dừng lại ở hình thức của một chợ nông sản vì hình thức mua bán chỉ là nhận hàng – trao tiền đủ, sau đó thì quan hệ các bên chấm dứt. Trong vòng vài năm, một kiểu hợp đồng mới xuất hiện dưới hình thức là các bên cùng thỏa thuận mua bán với nhau một số lượng lúa mì đã được tiêu chuẩn hóa vào một thời điểm trong tương lai. Nhờ đó, người nông dân biết mình sẽ nhận được bao nhiêu cho vụ mùa của mình, còn thương nhân thì biết được khoản lợi nhuận dự kiến. Hai bên ký kết với nhau một hợp đồng và trao một số tiền đặt cọc trước gọi là “tiền bảo đảm”. Quan hệ mua bán này là hình thức của hợp đồng kỳ hạn (forward contract). Nhưng không dừng lại ở đó, quan hệ mua bán ngày càng phát triển và trở nên phổ biến đến nỗi ngân hàng cho phép sử dụng loại hợp đồng này làm vật cầm cố trong các khoản vay. Và rồi, người ta bắt đầu mua đi bán lại trao tay chính loại hợp đồng này trước ngày nó được thanh lý. Nếu thương nhân không muốn mua lúa mì thì họ có thể bán lại cho người khác cần nó hoặc người nông dân không muốn giao hàng thì họ có thể chuyển nghĩa vụ của mình cho người nông dân khác. Giá cả hợp đồng lên xuống dựa vào diễn biến của thị trường lúa mì. Nếu thời tiết xấu xảy đến, thì người bán lại hợp đồng đó sẽ thu được nhiều lãi vì nguồn cung hàng đang thấp đi nên giá hợp đồng sẽ tăng; nếu vụ mùa thu được nhiều hơn sự mong đợi thì người bán hợp đồng sẽ mất giá vì người ta có thể trực tiếp mua lúa mì trên thị trường tự do. Cứ như thế, các quy định cho loại hợp đồng này ngày càng chặt chẽ và người ta quên dần việc mua bán hợp đồng kỳ hạn lúa mì mà chuyển sang lập các hợp đồng giao sau (HĐGS) lúa mì. Vì chi phí cho việc giao dịch loại hợp đồng mới này thấp hơn rất nhiều và người ta có thể dùng nó để bảo hộ giá cả cho chính hàng hóa của họ. Từ đó trở đi, những người nông dân có thể bán lúa mì của mình bằng cả 3 cách: trên thị trường giao ngay, trên thị trường kỳ hạn (forward) hoặc tham gia vào TTGS (futures).
Lịch sử phát triển của TTGS không dừng lại ở đó. Đến năm 1874, The Chicago Produce Exchange được thành lập và đổi tên thành Chicago Mercantile Exchange (CME), giao dịch thêm một số loại nông sản khác và trở thành TTGS lớn nhất Hoa Kỳ.
Năm 1972, CME thành lập thêm The International Monetary Market (IMM) để thực hiện các loại giao dịch HĐGS về ngoại tệ. Sau đó, xuất hiện thêm các loại HĐGS tài chính khác như HĐGS tỉ lệ lãi suất (Interest rates), HĐGS về chỉ số chứng khoán…
Ngày nay, TTGS đã vượt xa khỏi giới hạn của hợp đồng nông sản ban đầu, nó trở thành công cụ tài chính để bảo vệ các loại hàng hóa truyền thống và cũng là một trong những công cụ đầu tư hữu hiệu nhất trong ngành tài chính. TTGS hiện nay hoạt động liên tục thông qua hệ thống Globex nối liền 12 trung tâm tài chính lớn trên thế giới. Sự thay đổi giá cả của các loại hàng hóa chuyển biến từng giây một và gây ảnh hưởng không chỉ đến nền kinh tế của một quốc gia mà cả khu vực và toàn thế giới.
2- Tên gọi [2].
Thuật ngữ HĐGS xuất phát từ thuật ngữ Commodities Futures Contract (Hợp đồng mua bán hàng hóa giao sau). Người ta gọi tên cho loại thị trường này là Commodities Futures Market hoặc Futures Market. Dần dần, trong các tài liệu chỉ sử dụng thuật ngữ Futures để chỉ loại thị trường hoặc loại hợp đồng này. Điểm lưu ý là Futures luôn có “s” ở cuối từ. Trong một số tài liệu ở trong nước có lẽ do sai sót in ấn hay nhầm lẫn đã sử dụng là Future, như vậy là sai so với thuật ngữ quốc tế. Hiện nay, các tài liệu trong nước có rất nhiều cách gọi cho loại hợp đồng này, cụ thể như : hợp đồng Future, hợp đồng Futures, hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng giao sau… và khi gọi tên thị trường này thì cũng nhiều tên gọi khác nhau tương tự.
Việc có nhiều cách gọi khác nhau cùng để chỉ một thuật ngữ là một điều bình thường, đặc biệt là trong các thuật ngữ kinh tế. Nhưng trong lãnh vực pháp lý đòi hỏi phải có một thuật ngữ chung, sử dụng thống nhất, giúp cho việc tiếp nhận thông tin nhanh chóng từ người sử dụng thuật ngữ đến người tiếp nhận, tránh tình trạng hiểu sai.
Theo pháp luật Việt Nam qui định thì chỉ sử dụng thuật ngữ có phiên âm nước ngoài khi chưa có thuật ngữ thay thế hoặc chưa được Việt hóa. Vì vậy các văn bản pháp lý sẽ chỉ sử dụng các thuật ngữ tiếng Việt. Chúng tôi nhận thấy việc sử dụng thuật ngữ dịch từ thuật ngữ nước ngoài hiện nay ở Việt Nam có sự tham khảo bởi nhiều ngôn ngữ khác nhau. Thuật ngữ “hợp đồng tương lai” chẳng qua là do dịch từ Future, nhưng như đã nói, thuật ngữ quốc tế sử dụng là Futures. Các nước nói tiếng Pháp thì sử dụng thuật ngữ “le contrat à terme” để chỉ “futures contract”; “le contrat à terme ferme” để chỉ cho “forward contract”. Khi dịch các thuật ngữ trên sang tiếng Việt, do không có sự thống nhất nên dẫn đến có hai cách gọi là “hợp đồng kỳ hạn” và “hợp đồng giao sau” cho cả hai loại hợp đồng này; không có sự tách bạch cụ thể, đâu là “hợp đồng giao sau”, đâu là “hợp đồng kỳ hạn”. Hiện nay, các nhà kinh doanh thì gọi “hợp đồng kỳ hạn” để chỉ cho cả hợp đồng futures và hợp đồng forward. Còn các nhà nghiên cứu, các sách, giáo trình tài chính thì sử dụng thuật ngữ “hợp đồng kỳ hạn” cho loại Forward contract – le contrat à terme ferme; “hợp đồng giao sau” cho thuật ngữ Futures contract – le contrat à terme. Mặt khác, trong các đề tài nghiên cứu, văn bản của Viện Thương mại, Bộ Thương mại trình Chính phủ cũng sử dụng thuật ngữ “thị trường giao sau”, “hợp đồng giao sau” để chỉ cho loại quan hệ này, nên chúng tôi cũng lựa chọn thuật ngữ này trong đề tài nghiên cứu của mình.